
Vietnamese Wedding Traditions
from http://chimviet.free.fr/quehuong/nguyendu/nddg060.htm
|
|
Phong tục về
cưới xin
Nguyễn Dư
Luân lư Việt
Nam coi việc thờ phụng tổ tiên là một bổn phận thiêng liêng của con
cháu. Thờ phụng phải được tiếp nối liên tục qua các đời. V́ vậy mỗi
người đàn ông phải sớm lập gia đ́nh để mau có con trai nối dơi, lo việc
đèn nhang.
Sớm là bắt đầu từ mấy tuổi ?
Luật lệ ngày xưa không ấn định tuổi được
phép lấy vợ lấy chồng. Chúng ta được biết vài trường hợp trai gái lấy nhau
khá sớm :
- Gái thập tam,
nam thập lục (gái 13, trai 16),
- Em lấy anh từ thuở mười
ba
Đến năm mười tám em đà năm con...
- Cái bống cơng chồng
đi chơi Đi
đến chỗ lội đánh rơi mất chồng...
Năm 1888, nhà nước bảo hộ Pháp ấn định con
gái 14 tuổi, con trai 16 tuổi mới được làm đám cưới. Tuy không thay đổi là
bao so với 13 và 16 tuổi, nhưng ít ra luật pháp cũng chính thức cấm tục
tảo hôn(lấy vợ sớm), không cho phép con trai dưới 16 tuổi lấy
vợ. Tuy bị cấm, nhưng ở nông thôn miền Bắc, hủ tục này c̣n rơi rớt đến tận
những năm 1940. Một vài cậu bé con nhà giàu, mới lên tám, lên mười đă được
cha mẹ cưới cho một cô vợ lớn gấp hai, ba lần tuổi ḿnh. Thật ra mục đích
của cha mẹ cậu bé là kiếm một người giúp việc không công, chứ chẳng phải
là lo cho con, hay cho ông bà tổ tiên.
Cha mẹ đặt đâu, con
ngồi đấy . Con gái không có quyền quyết định. Duyên phận phó
mặc cho may rủi, chọn lựa của cha mẹ.
Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào
vườn hoa
Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng
cày
Ư muốn của chàng trai cũng phải được cha
mẹ chấp nhận th́ mọi chuyện mới trôi chảy êm đẹp.
Ngày xưa, lễ nghi cưới xin của ta bắt
chước Tàu. Rất rườm rà, phức tạp.
Theo sách Văn công
gia lễ th́ cưới xin có 6 lễ chính:
1- Nạp thái
: nhà trai đến nhà gái ngỏ ư 2- Vấn danh : nhà
trai hỏi tên tuổi cô gái để tính ngày giờ, xem có bị xung khắc không ?
3- Nạp cát : chọn được ngày tốt, xác
nhận với nhà gái 4- Nạp tệ : đưa
đồ thách cưới do nhà gái ấn định 5- Thỉnh kỳ :
định ngày làm lễ cưới, nộp nữ trang, vải vóc cho nhà gái 6- Nghinh hôn (thân nghinh): lễ
rước dâu
Năm 1477 nhà Lê quy định rằng :
Phàm người lấy vợ, trước
hết phải mượn người mối đi lại bàn định, rồi sau mới định lễ cầu thân. Lễ
cầu thân xong rồi mới định lễ dẫn cưới. Dẫn cưới xong rồi mới định ngày
đón dâu. Ngày hôm sau chào cha mẹ chồng, ngày thứ ba đến lễ nhà thờ. Nghi
thức tiết mục, phải theo đúng như điều đă ban xuống mà làm. Không được như
trước, nhà trai dẫn lễ cưới rồi để đến 3, 4 năm mới cho đón dâu.
Bắt đầu, nhà trai bắn tin thăm ḍ. Các nhà
quyền quư thường t́m nơi môn đăng hộ đối
(gia đ́nh tương xứng). Sau khi đă được nhà gái đồng ư, nhà trai mới nhờ
ông mai hoặc bà mối mang trầu cau và trà tới xin dạm.
Đẹp như rối, không mối
không xong
Vai tṛ trung gian của ông mai bà mối rất quan
trọng. Lễ
dạm tương đương với ba lễ đầu của ngày xưa. |
| Trầu cau luôn luôn có mặt trong các lễ cưới
hỏi của người Việt Nam.
Truyền thuyết kể rằng :
Ngày xưa có hai anh em
nhà kia, hơn nhau một tuổi và giống nhau như đúc(có người kể là hai anh em
sinh đôi). Cha mẹ mất sớm. Được 17, 18 tuổi, hai anh em đến xin trọ học
tại nhà một đạo sĩ. Học hành chăm chỉ, tính t́nh đứng đắn, cả hai được
thầy yêu quư. Thầy có người con gái tuổi trăng tṛn, xinh đẹp dịu hiền. Cô
gái đem ḷng yêu mến hai anh em.
Ít lâu sau cô xin phép
cha lấy người anh làm chồng. Từ ngày lập gia đ́nh, người anh quấn quưt bên
cô vợ trẻ, lơ là với em. Người em cảm thấy lẻ loi. Một hôm hai anh em cùng
lên nương làm việc đồng áng, tối trời mới về. Người em vào nhà trước. Chị
dâu trong buồng chạy ra, tưởng là chồng ḿnh, vội ôm chầm lấy. Người em
lúng túng kêu lên. Hai người cùng ngượng ngùng xấu hổ. Được chứng kiến
cảnh vợ và em ôm nhau, người anh đem ḷng nghi ngờ. Từ đó t́nh anh em lại
càng lạnh nhạt.
Một buổi chiều kia, anh
chị đi vắng, người em cảm thấy cô đơn, buồn tủi, quyết định bỏ nhà ra đi.
Chàng đi, đi măi đến một khu rừng, có con suối chắn ngang. Màn đêm xuống
dần... Mỏi mệt, đói khát, buồn chán, chàng lịm thiếp đi rồi chết. Xác
chàng biến thành một tảng đá.
Vợ chồng người anh về nhà
không thấy em. Qua ngày hôm sau vẫn vắng bóng. Người anh lẳng lặng bỏ nhà
đi t́m. Đến khu rừng, cạnh con suối, ngồi tựa lưng vào tảng đá nghỉ mệt.
Thương nhớ em... Chàng thiếp đi, chết giữa đêm khuya, hóa thành một cây
mọc thẳng bên cạnh tảng đá.
Đến lượt người vợ trông
chờ măi không thấy chồng về, cũng lần theo con đường ṃn đến cạnh bờ suối.
Đêm đó nàng chết, hóa thành một cây leo, quấn chặt thân cây cao.
Một hôm vua Hùng Vương đi
qua chốn ấy. Nghe dân làng kể chuyện, vua sai người lấy lá cây leo, hái
quả cây cao. Nghiền lá với quả th́ thấy một mùi thơm nhẹ nhàng toát ra.
Nhai thử th́ thấy vị cay, tê tê đầu lưỡi. Nước tiết ra, nhổ lên tảng đá
th́ thấy một màu đỏ thắm hiện lên.
Dân làng đặt tên cây cao
là cau, cây leo là trầu, tảng đá là vôi.
Nước ta có tục ăn trầu từ
đó. |
| Trầu cau tượng trưng cho t́nh nghĩa thủy
chung, thắm thiết. Miếng trầu là đầu câu chuyện,
trong cuộc sống hàng ngày, mỗi khi gặp gỡ nhau người ta cũng thường mời nhau
miếng trầu. Ngày nay miếng trầu có thêm tí vỏ, ít thuốc lào, càng làm tăng
thêm hương vị.
Sau lễ dạm đến lễ nạp tệ, hay thách cưới.
Nhà gái đưa ra một danh sách những đồ vật
và tiền bạc bắt nhà trai phải nộp.Thông thường th́ cũng phải:
Giúp em một thúng xôi
ṿ Một con
lợn béo, một ṿ rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em
đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới, lại đèo
buồng cau
Chàng trai nói giúp cho lịch sự chứ thật ra
là bị bắt buộc. Có khi nhà gái thách cao, đ̣i ḅ, đ̣i trâu, ṿng vàng, xà
tích bạc...
Năm 1663 vua Lê Huyền Tông ban điều giáo
hóa :
Vợ chồng là gốc luân
thường, lấy vợ, gả chồng phải theo lễ nghĩa, không được suy b́ giàu nghèo,
đ̣i nhiều tiền của. Lấy nhau phải phân biệt họ hàng, ṇi giống, không được
tham giàu sang mà phối hợp loạn luân thường, không được cẩu hợp không có
sính lễ để đến nỗi gần như giống cầm thú...
Năm 1804 vua Gia Long định lệ :
Trai lấy vợ, gái lấy
chồng th́ sính lễ phải châm chước. Trong 6 lễ phải tùy sức nhà trai giàu
nghèo, không được bắt ép viết văn khế cầm ruộng...
Bên cạnh thách cưới, nhà trai c̣n phải
nộp cheo cho làng cô gái. Có nộp cheo
mới được làng công nhận chuyện cưới xin.
Xưa kia nước ta không có sổ sách hộ tịch.
Khi nhận tiền nộp cheo, làng viết giấy chứng nhận. Giấy này có giá trị như
giấy giá thú ngày nay. Đám cưới nào không nộp cheo th́ cặp vợ chồng đó sẽ
bị làng coi như sống lén lút :
Có cưới mà chẳng có
cheo Dẫu
rằng có giết mười heo cũng hoài
Nộp cheo bằng đồ vật hay tiền bạc. Có làng
bắt nộp chiếc mâm đồng, ít chén bát để dùng cho hội hè đ́nh đám. Có nơi đ̣i
ít gạch để lót lại quăng đường hư hỏng, hay một ít vật liệu để sửa cái cầu,
giếng nước...
Luật xưa quy định :
Bất cứ ở cùng một làng
hay làng khác đều cho phép thu cheo một quan tiền cổ và một ṿ rượu. Quan
viên và binh lính ở xă thôn nhà gái không được viện cớ người ta lấy chồng
làng khác mà đ̣i tiền cheo quá lạm (1663).
Về tiền cheo th́ nhà giàu
phải nộp 1 quan 5 tiền, nhà bậc trung nộp 6 tiền, nhà nghèo nộp 3 tiền
(1804).
Tuy luật quy định như vậy nhưng trong thực
tế vẫn có sự phân biệt người cùng làng hay khác làng. Và tiền cheo thường
bắt nộp quá mức luật định.
Nhà trai sắm sửa đủ đồ thách cưới th́ lảm
lễ hỏi , mang tới nộp nhà gái.
Sau lễ hỏi, nhà trai phải năng lui tới
thăm hỏi, sêu tết nhà gái. Mùa nào thức
ấy: nhăn, vải, hồng, cốm...trong khi chờ đợi lễ cưới.
Lễ cưới, c̣n gọi là rước dâu, đón dâu, tên chữ là nghinh hôn, là lễ quan trọng nhất.
Lễ cưới phải chọn ngày tốt, đón dâu phải
lựa giờ tốt. Ngày xưa có tục đón dâu vào buổi tối. Nhà trai mang trầu cau,
rượu, xôi, gà, lợn...đến nhà gái. Dẫn đầu là một cụ già, không có tang, vợ
chồng song toàn, lắm con nhiều cháu. Cụ già mặc áo thụng xanh, cầm bó
hương hay ôm lư trầm. Theo sau là những người đội lễ vật, tiếp đến chú rể,
họ hàng. Ngày xưa chú rể đội nón. Đến đầu thế kỷ 20, chú rể tân thời bỏ
chiếc nón, thay bằng cái ô tây, miệng ph́ phèo thuốc lá. Ngoài Bắc, chỉ có
cha chú rể đi đón dâu. Trong Nam, cha mẹ chú rể cùng đi. |
Trên đường đến nhà gái, nhà
trai thường bị những người nghèo và trẻ con tổ chức bày hương án, chăng giây ngăn cản.
Mục đích của đám này là đ̣i ăn uống, tiền bạc, họa hoằn mới để mua vui. Muốn
cho mọi chuyện được êm đẹp, khỏi bị quấy phá, chửi rủa tục tằn, làm chậm trễ
buổi lễ, nhà trai thường phải chiều ư chúng.
Khi nhà trai tới đầu ngơ, nhà gái đốt pháo
đón mừng. Người chủ hôn hoặc cha chú rể đứng ra tuyên bố xin đón dâu. Đại
diện mẹ chú rể bưng trầu cau đặt trước mặt nhà gái để xin con dâu.
Nhà gái mời đại diện nhà trai cùng cô dâu
chú rể làm lễ cáo gia tiên . Đây cũng là
một dịp để trẻ con bên nhà gái đóng cửa nhà thờ nhơng nhẽo ṿi tiền nhà
trai.
Sau đó, nhà trai xin rước dâu. Ngoài Bắc,
cha mẹ cô dâu không đưa tiễn con gái về nhà chồng. Trong Nam, nhà gái cũng
kén một cụ già cầm bó hương đi trước, theo sau là cô dâu và cha mẹ họ
hàng, bạn bè đưa tiễn.
Đám rước dâu vẫn do cụ già của nhà trai
cầm bó hương dẫn đầu, đằng sau là hai họ. Đoàn người về tới đầu ngơ th́
nhà trai đốt pháo chào mừng.
Trong lúc đi đường, cô dâu ăn mặc đẹp sợ
bị thiên hạ quở quang, phải cài vài cái kim vào
choàng áo để trấn áp những câu nói độc mồm độc miệng.
Giữa bậc cửa vào nhà chú rể đặt một
hỏa ḷ than hồng để cô dâu bước qua.
Than hồng sẽ đốt hết những vía xấu đi theo quấy phá cô trên đường về
nhà chồng.
Trước khi cô dâu bước vào nhà, mẹ chú rể
xách b́nh vôi lánh mặt một lúc lâu rồi
mới về chào mừng hai họ.
Có ngườ́ cho rằng b́nh vôi tượng trưng cho
của cải trong nhà. Lại có người cho rằng b́nh vôi là một tục bái vật cổ truyền xa xưa của dân ta. B́nh vôi là bà chúa trong nhà,
chưa ai định danh là bà chúa ǵ, nhưng b́nh vôi tượng trưng cho uy quyền
chúa nhà, nhà nào cũng có b́nh vôi. Khi làm vỡ b́nh vôi th́ đem mảnh b́nh
c̣n lại cất ở chỗ uy nghiêm hoặc đưa lên đ́nh chùa, không vứt ở chỗ ô uế.
Tại sao b́nh vôi lại là uy quyền, của cải
?
Chữ vôi
(nôm) được viết bằng chữ khôi (hán
việt). Khôi chính nghĩa là tro, là màu xám. Chữ khôi có nhiều từ đồng âm.
Trong đó có chữ khôi (bộ quỷ) nghĩa là
đứng đầu và chữ khôi (bộ ngọc) nghĩa là quư báu.
Do đó cái b́nh vôi của ta được dùng
để tượng trưng cho người đứng đầu và
của cải. Bà mẹ chồng giữ b́nh vôi để bảo
vệ uy quyền của ḿnh và của cải của gia đ́nh. Chiếc b́nh vôi chỉ là một
suy diễn chữ nghĩa của giới b́nh dân chứ không mang nội dung thần thánh. Ư
kiến cho rằng b́nh vôi là bà chúa chưa ai định danh
là bà chúa ǵ và b́nh vôi là tục bái vật
có lẽ đă vượt quá xa khả năng suy diễn hán nôm của giới b́nh dân !
Có nơi chờ đám rước dâu về tới đầu ngơ,
một người lấy chày giă vào cối đá, đôi
khi giă mạnh đến vỡ cả cối. Tục ấy th́ ngộ quá,
không hiểu ư làm sao (Phan Kế Bính).
Giă cối là một tục cổ, có từ thời đại Hùng
Vương.
Giă cối cũng là một tục
lệ ngày hội.Từng đôi nam nữ cầm chày dài đứng giă cối tṛn.Đó là những
chiếc cối rỗng, là một thứ dụng cụ nông nghiệp, đồng thời là nhạc cụ, và
cũng là vật tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở. Trở thành một tiết mục
trong ngày hội lễ, giă cối(và hát) vừa là h́nh thức biểu diễn và thưởng
thức văn nghệ vừa là tṛ chơi và h́nh thức giao duyên nam nữ, vừa mang ư
nghĩa cầu mong sinh sản thịnh vượng.
Chày cối, theo quan
niệm dân gian, là h́nh giống của nam và nữ. Giă
cối, ở một số nơi, c̣n có ư nghĩa tượng trưng cho hành động tính giao.
Cô dâu, chú rể cùng lễ tổ ở nhà thờ họ nhà
trai, rồi trở về nhà chú rể lễ gia tiên, chào mừng cha mẹ, họ hàng bên
chồng.
Con gái là con người ta
Con dâu mới thật mẹ cha mua
về
Từ giờ phút này, cô dâu trở thành một người
của gia đ́nh bên chồng. |
| Có nơi c̣n làm lễ tơ hồng, cám ơn Nguyệt Lăo đă xe duyên cho đôi
trẻ.
Tích Nguyệt Lăo kể rằng :
Đêm trăng, Vi Cố đi chơi
gặp một ông già ngồi đọc sách, tay cầm nắm dây tơ màu đỏ. Vi Cố chào hỏi,
ông già tự xưng là Nguyệt Lăo chuyên việc xe duyên cho nhân gian. Dây tơ
đỏ để buộc chân những cặp vợ chồng có tên trong sách. Vi Cố ṭ ṃ muốn
biết ai sẽ là vợ tương lai của ḿnh. Nguyệt Lăo tra sách, trả lời là đứa
bé gái, con người ăn mày ngoài chợ. Vi Cố tức giận. Hôm sau ra chợ t́m
giết đứa bé. Đứa bé bị Vi Cố chém một nhát trúng đầu, ngất đi. Về sau Vi
Cố kết duyên cùng con gái một vị quan to. Một hôm thấy vết sẹo trên đầu
vợ, hỏi ra mới biết rằng thuở nhỏ nàng bị một người chém giữa chợ, được
quan cứu sống, đem về nuôi.
Tối hôm cưới, gọi là tối động pḥng, làm lễ hợp cẩn.
Hai vợ chồng cùng uống chung một chén rượu.
Cưới được ba ngày, đến ngày thứ tư th́ hai
vợ chồng mang xôi chè, trầu rượu về nhà bố mẹ vợ lễ gia tiên, gọi là lễ
lại mặt hay tứ hỉ.
Luật xưa nghiêm cấm cử hành lễ cưới trong
lúc gia đ́nh có tang từ một năm trở lên (tang ông bà, chú bác, cha mẹ).
Nhà trai hoặc nhà gái gặp lúc gia đ́nh có cha mẹ, ông bà hay chú bác đau
ốm nặng, thường cho cử hành gấp lễ cưới. Nếu có người chết, phải làm đám
cưới trước khi phát tang.
Cưới vội vă như vậy gọi là cưới chạy tang.
Xă hội Việt Nam đă thay đổi sâu xa. Phần
đông trai gái ngày nay lấy nhau ở độ tuổi từ 20 đến 30. Họ có nhiều dịp
gặp gỡ, t́m hiểu nhau trước khi quyết định làm đám cưới. Cha mẹ được hỏi ư
kiến nhưng không c̣n nắm vai tṛ quyết định nữa. Nhờ đó mà hủ tục môn đăng
hộ đối không c̣n nữa. Nghi lễ được tổ chức đơn giản để đỡ tốn thời gian.
Lễ hỏi, lễ cưới chỉ có trầu cau, trà bánh và rượu. Lễ gia tiên c̣n được
giữ, các lễ khác thường bỏ qua.
Nhiều nơi rước dâu bằng xe hơi.
Ở nước ngoài, các cô dâu Việt Nam thường
mặc áo dài thêu rồng vẽ phượng, đầu đội khăn vành, màu đỏ màu vàng, trong
khi ở trong nước các cô lại chuộng chiếc áo cưới cồng kềnh lết đất của Âu
Mỹ.
Chiều tối hai họ cùng tổ chức mời bạn bè
ăn uống. Cô dâu thay ba bốn bộ quần áo, giống như một cuộc tŕnh diễn thời
trang.
Nguyễn Dư
(20/9/2000)
Sách báo tham khảo:
- Phan Kế Bính,Việt
Nam Phong Tục, Tổng Hợp Đồng Tháp, 1990. - Toan Ánh, Phong Tục Việt Nam,
Khai Trí, 1968. - Nhất Thanh Vũ
Văn Khiếu, Đất Lề Quê Thói, Saigon, 1968.
- Nhiều tác giả, Thời đại Hùng Vương, Khoa Học Xă Hội, 1976.
-
http://www.vnn.vn/vnn3/phongtuc/gio_tet/bai_vat.htm - Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển,
Trường Thi, 1957. |
|

Copyright © 2001-2007 NguyendoFamily.com . All rights reserved.
Email:
Tuan@NguyendoFamily.com
Home Page:
http://www.NguyendoFamily.com
Last Revised:
Saturday, April 28, 2007
|